Trang chủ > Nghị luận văn học > Vẻ đẹp cổ điển trong “Tràng giang” của Huy Cận

Vẻ đẹp cổ điển trong “Tràng giang” của Huy Cận

tràng giang huy cận

Đề bài: Vẻ đẹp cổ điển trong “Tràng giang” của Huy Cận


Xem thêm bài viết:


Dàn bài:

1. Mở bài

– Huy Cận là một trong những tác giả tiêu biểu nhất của phong trào thơ mới, với tập Lửa thiêng. Ông có tập “Lửa thiêng” (1940). Huy Cận đã đem đến cho Thơ mới một bản sắc và giọng điệu thơ ca riêng với tấm lòng thiết tha yêu cuộc đời nhưng chán ngán về thời thế. Ông đau buồn và cái buồn sầu lắng triền miên đó cũng chính là nỗi lòng, là tiếng thơ của Huy Cận trước CM tháng 8.

Tràng giang là bài thơ hay nhất tiêu biểu cho hồn thơ Huy Cận trước CM. Bài thơ lấy cảm hứng từ một buổi chiều buồn trên bến sông Chèm trước cảnh sông nước sông Hồng mênh mông.

– Bài thơ mang vẻ đẹp cổ điển.

2. Thân bài

a) Giới thiệu chung

– Giải thích đề:

+ Vẻ đẹp: vẻ hấp dẫn, khả năng tạo những rung động thẩm mĩ.

+ Cổ điển: thuộc về thời xưa đã trở thành mẫu mực.

+ Vẻ đẹp cổ điển: vẻ hấp dẫn của những yếu tố đã trở thành chuẩn mực thẩm mĩ trong thơ ca cổ điển phương Đông – tiêu biểu thơ Đường, thơ Tống và thơ ca trung đại Việt Nam.

– Cơ sở tạo nên vẻ đẹp cổ điển trong thơ Huy Cận:

+ Thơ mới tuy có cách tân mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực nhưng không cắt đứt với cái cũ mà vẫn kế thừa và phát triển những vẻ đẹp trong nội dung và hình thức nghệ thuật của thơ ca trung đại.

+ Thơ mới là thơ lãng mạn. Quay lưng với hiện tại và tìm lối thoát về tinh thần, các nhà thơ lãng mạn có xu hướng tìm về với những gì xưa cũ.

+ Thơ mới có nhiều trường phái. Có nhà thơ tìm về chân quê, có nhà htơ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của thơ ca phương Tây, Huy Cận bên cạnh ảnh hưởng của thơ ca lãng mạn Pháp vẫn kế thừa thi pháp thơ cổ điển phương Đông.

+ Phong cách thơ Huy Cận: “Người đã gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á, người đã khơi lại cái mạch sầu mấy ngàn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này” (Hoài Thanh).

b) Phân tích

(1) Hình thức

– Thể thơ thất ngôn trường thiên cổ kính trang nghiêm.

– Chất nhạc cổ điển: nhịp 4/3, 2/3/3 (quen thuộc trong thơ Đường), phối hợp thanh điệu hài hòa, sử dụng chủ yếu vần bằng tạo âm điệu trầm buồn, những từ láy, điệp âm tạo nên dòng chảy của dòng sông cũng như dòng chảy miên viễn của tâm trạng buồn thương tạo cho thơ chất nhạc sầu da diết.

– Nghệ thuật tả cảnh:

+ Lối vẽ chấm phá như thu lấy linh hồn của cảnh vật.

+ Kết hợp miêu tả và diện; màu sắc thanh nhã.

+ Thủ pháp vẽ mây nẩy trăng – lấy động tả tĩnh (tiếng làng xa vãn chợ chiều).

– Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình:

+ Tạo ra những cặp hình ảnh hô ứng với nhau (sóng nước – sóng lòng; dòng sông – dòng đời; bến cô liêu, cồn nhỏ, cành củi, cánh bèo – con người, kiếp người…).

+ Sử dụng hệ thống những hình ảnh ước lệ quen thuộc: cánh chim, mây, con thuyền, dòng nước…

+ Sử dụng thi liệu cổ (điển tích): Bức tranh hoàng hôn gợi nhớ câu thơ Lạc hà dữ cô lộ tề phi / Thu thủy cộng trường thiên nhất sắc. Khói sóng gợi nhớ câu thơ Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai (Hoàng Hạc lâu).

+ Biện pháp tương phản, nghệ thuật bồi thấn thường thấy trong văn học trung đại (cấp độ câu: củi – một – cành – khô – lạc – mấy dòng; cấp độ bài: khổ 1 gợi nỗi cô đơn qua cái nhỏ nhoi vô nghĩa của một cành củi; khổ 2 gợi cảm xúc ấy qua cách cảm nhận về không gian ba chiều bát ngát, rợn ngợp; khổ 3 mở ra một không gian đã đứt gãy các mối dây liên hệ; khổ 4 lại gợi ra hình ảnh sừng sững của vũ trụ – đối thể của tồn tại cá nhân nhỏ bé đơn côi).

+ Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ Hán Việt (tràng giang, cô liêu…), sử dụng lối biểu đạt hàm súc (“lạc”: vừa là lạc lõng, bơ vơ vừa gợi sự mất phương hướng… Câu hỏi: “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” có hai cách hiểu: có tiếng nhưng mơ hồ, phủ định hoàn toàn không có âm thanh vang lên trong không gian, chỉ có âm thanh vang lên trong tâm tưởng).

NHẤN VÀO ĐÂY ĐỂ ĐỌC TIẾP, HOẠC TẢI BÀI VIẾT (FREE)

Comments

comments